Đề tài Phụ tử
Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu chế biến phụ tử chế và cao phụ tử từ Ô đầu Sa Pa để chế tạo thuốc Bát vị Quế Phụ”.
1. Danh sách tác giả:
ThS. Bùi Hồng Cường (Chủ nhiệm đề tài), TS. Phùng Hoà Bình, PGS.TS. Nguyễn Trọng Thông, ThS. Vũ Thị Thuận, ThS. Nguyễn Huy Văn, TS. Phạm Văn Thanh, ThS. Chu Thế Ninh, ThS. Vũ Chí Nguyễn, DS. Đỗ Tiến Sỹ, DS. Phạm Thị Thường, DS. Lâm Thị Bích Hồng, ThS. Phạm Thị Vân Anh, ThS. Phạm Thị Giảng, ThS. Nguyễn Tuấn Anh
2. Thời gian thực hiện: 1/2006-12/2006.
3. Mục tiêu:
Phương thuốc Bát vị Quế Phụ là một cổ phương quý, trong đó Phụ tử chế là vị thuốc chính, phải được chế biến giảm độc, đảm bảo độ an toàn của bài thuốc. Đề tài nhằm mục tiêu chế biến được Phụ tử chế và cao Phụ tử an toàn, hiệu lực và bào chế được thuốc nang Bát vị Quế Phụ.
4. Báo cáo tóm tắt những đóng góp mới của đề tài.
Phương thuốc Bát vị Quế Phụ là một cổ phương quý, trong đó Phụ tử chế là vị thuốc chính, phải được chế biến giảm độc, đảm bảo độ an toàn của bài thuốc. Đề tài nhằm mục tiêu chế biến được Phụ tử chế và cao Phụ tử an toàn, hiệu lực và bào chế được thuốc nang Bát vị Quế Phụ.
Phương pháp nghiên cứu thường quy và hiện đại như phương pháp chế biến cổ truyền, phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao, các phương pháp nghiên cứu tác dụng dược lý …, được thực hiện tại các phòng thí nghiệm đầu ngành ở Việt Nam.
Từ nguồn nguyên liệu Phụ tử ở Sa Pa, chúng tôi đã lựa chọn được mùa thu hoạch thích hợp, xây dựng phương pháp chế biến Phụ tử, bào chế cao Phụ tử.
Nghiên cứu về thành phần hoá học, chúng tôi đã xây dựng được phương pháp định lượng aconitin bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao. Đã xác định được hàm lượng alcaloid toàn phần, diester alcaloid, aconitin trong Phụ tử sống tại các thời điểm thu hoạch khác nhau và sự thay đổi hàm lượng trong quá trình chế biến, bào chế.
Nghiên cứu về độc tính và tác dụng dược lý cho thấy các chế phẩm có độc tính rất thấp, có tác dụng tăng biên độ co bóp và tăng lưu lượng mạch vành tim thỏ cô lập, giãn mạch, giảm nhu động ruột, không ảnh hưởng đến huyết áp, tần số tim.
Lần đầu tiên ở trong nước, đề tài đã nghiên cứu bào chế bài thuốc Bát vị Quế Phụ dạng viên nang cứng nhằm hiện đại hoá các dạng bào chế cổ truyền.
Tóm lại, đề tài đã thực hiện đầy đủ các nội dung đã đăng ký và đạt được các mục tiêu đề ra trong đề cương đã được duyệt.
5. Kết quả nổi bật của đề tài.
Vấn đề chế biến Phụ tử an toàn, hiệu lực đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng thừa nhận tác dụng và độc tính của Phụ tử chế phụ thuộc nhiều yếu tố như nguồn gốc nguyên liệu, mùa thu hoạch, phương pháp chế biến, kinh nghiệm chế biến,… Đề tài đã đề cập đến nhiều lĩnh vực nghiên cứu nhằm mục tiêu xây dựng được phương pháp chế biến Phụ tử Sa Pa ổn định, thu được sản phẩm an toàn, hiệu lực để chế tạo viên nang Bát vị Quế Phụ và các bài thuốc có chứa Phụ tử. Các kết quả chính có thể tóm tắt như sau:
Đã thu hoạch Phụ tử ở Sa Pa trong 3 năm liên tục (2003 – 2005) theo các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây Ô đầu. Đã xác định được thời điểm thu hoạch thích hợp nhất là trong giai đoạn cây đang ra hoa (khoảng cuối tháng 8 đến cuối tháng 10 hàng năm).
Đã khảo sát, chế biến được Hắc phụ phiến từ Phụ tử tươi theo phương pháp cổ truyền, thu được chế phẩm đạt tiêu chuẩn Dược điển Trung Quốc. Nghiên cứu chế biến được Phụ tử chế từ Phụ tử khô theo phương pháp ngâm với dung dịch muối MgCl2 và NaCl. Từ đó xây dựng dự thảo quy trình chế biến Phụ tử. Đã lựa chọn bào chế cao đặc và cao khô Phụ tử bằng phương pháp chiết nóng với nước để xây dựng quy trình bào chế cao. Đã chiết xuất được alcaloid từ cao Phụ tử.
Định tính xác định sự có mặt của alcaloid bằng phản ứng hoá học trong Phụ tử sống, các chế phẩm chế biến, bào chế và các dung dịch ngâm. Đã khảo sát định tính alcaloid Aconit trong Phụ tử sống và các chế phẩm bằng phương pháp quang phổ tử ngoại: Phụ tử sống cho hấp thụ cực đại ở bước sóng 231 nm và các chế phẩm chế biến, bào chế cho hấp thụ cực đại ở 2 bước sóng 231 nm và 274 nm. Định tính aconitin trong Phụ tử sống và các chế phẩm bằng phương pháp HPLC cho thấy trong Phụ tử sống, Phụ tử chế có aconitin, trong cao Phụ tử không thấy xuất hiện pic aconitin.
Xác định được hàm lượng alcaloid toàn phần trong các mẫu Phụ tử sống thu hoạch ở các giai đoạn khác nhau trong 3 năm dao động trong khoảng 0,91 – 1,11%. Hàm lượng alcaloid toàn phần trong các chế phẩm chế biến, bào chế đều bị giảm đi đáng kể so với Phụ tử sống. Hàm lượng diester alcaloid trong Phụ tử sống dao động từ 0,18 – 0,31%. Hàm lượng diester alcaloid trong các chế phẩm chế biến, bào chế giảm nhiều so với Phụ tử sống. Đã xây dựng được phương pháp định lượng aconitin trong Phụ tử bằng phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao có độ tin cậy cao. Xác định hàm lượng aconitin trong Phụ tử sống từ 5,3 – 12,7 mg%. Trong các sản phẩm chế biến, hàm lượng aconitin giảm nhiều. Trong cao Phụ tử không còn aconitin. Từ những kết quả nghiên cứu đã xây dựng dự thảo tiêu chuẩn cơ sở của Phụ tử sống và các chế phẩm.
Các chế phẩm PTNa, HPP, CN, Alc – CN đều có độ an toàn cao khi thử độc tính cấp trên chuột nhắt trắng theo đường uống.
Các chế phẩm PTNa ở nồng độ 1%, HPP 0,5%, CN 1%, Alc – CN 1% đều có tác dụng tăng biên độ co bóp của tim thỏ cô lập, tăng lưu lượng mạch vành và không gây loạn nhịp tim. Thuốc Bát vị Quế Phụ ở nồng độ 0,625% cũng có tác dụng gây tăng biên độ co bóp của tim, không gây loạn nhịp tim.
Chọn 3 chế phẩm Phụ tử chế PTNa, CN và Alc – CN để nghiên cứu một số tác dụng dược lý khác cho thấy:
- Không ảnh hưởng trên huyết áp và nhịp tim chó với liều uống tương đương 2 gDL/kgTT.
- Có tác dụng giãn mạch tai thỏ cô lập và giảm nhu động ruột thỏ cô lập ở nồng độ 2 g/l và 10 g/l.
- Không có tác dụng giảm đau trên mô hình mâm nóng nhưng có tác dụng trên mô hình gây quặn đau bằng acid acetic khi thử bằng đường uống trên chuột nhắt trắng ở liều tương đương 10 gDL/kgTT.
- Không có tác dụng chống viêm mạn khi cho chuột nhắt trắng uống liều 10 g/kg.
- Phụ tử chế PTNa cho chuột nhắt trắng uống liều 10 g/kg có tác dụng ức chế phản ứng viêm cấp.
Đã xây dựng được dự thảo quy trình bào chế thuốc nang cứng và xây dựng dự thảo tiêu chuẩn cơ sở của sản phẩm.
6. Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương đã được duyệt.
6.1. Tiến độ.
Theo đề cương được duyệt, đề tài được thực hiện trong 12 tháng (từ tháng 1/2006 đến tháng 12/2006). Chúng tôi đã hoàn thành đề tài đúng tiến độ. Tuy nhiên để có được những kết quả ổn định và đủ số liệu khoa học, chúng tôi đã thực hiện đề tài từ năm 2003 các nội dung thu hoạch và chế biến Phụ tử chế, nghiên cứu về hoá học và thăm dò một số tác dụng dược lý.
6.2. Thực hiện mục tiêu và các nội dung nghiên cứu.
Chúng tôi đã hoàn thành đầy đủ các nội dung nghiên cứu và hoàn thành được mục tiêu đề ra trong đề cương đã được duyệt:
- Đã thu hoạch Phụ tử, chọn thời điểm thu hoạch thích hợp.
- Đã nghiên cứu chế biến Hắc phụ phiến, Phụ tử chế, bào chế cao Phụ tử, chiết xuất alcaloid.
- Đã nghiên cứu định lượng alcaloid toàn phần, diester alcaloid, aconitin trong các mẫu Phụ tử sống và chế.
- Đã nghiên cứu độc tính cấp của các chế phẩm
- Đã nghiên cứu tác dụng trên tim, động mạch vành tim thỏ cô lập, tác dụng trên huyết áp, nhịp tim, tác dụng trên cơ trơn, tác dụng giảm đau, tác dụng chống viêm cấp và mạn.
- Đã căn cứ kết quả nghiên cứu về chế biến, hoá học, tác dụng dược lý để xây dựng dự thảo phương pháp chế biến Phụ tử, bào chế cao Phụ tử.
- Đã xây dựng dự thảo tiêu chuẩn cơ sở của Phụ tử chế, cao Phụ tử.
- Đã nghiên cứu chế tạo được thuốc nang Bát vị Quế Phụ và xây dựng dự thảo tiêu chuẩn cơ sở sản phẩm.
6.3. Kết quả đào tạo và các công trình đã công bố.
Trong quá trình thực hiện đề tài đã góp phần đào tạo 1 Tiến sĩ Dược học, 2 Thạc sĩ Dược học, 5 Dược sĩ đại học.
Kết quả của đề tài đã được đăng tải trong 9 bài báo khoa học ở tạp chí Dược học và tạp chí Dược liệu, 2 bài đăng trong sách Nghiên cứu phát triển dược liệu và đông dược ở Việt Nam, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật (2006). Đề tài cũng đã được báo cáo tại Hội nghị Khoa học công nghệ Viện Dược liệu năm 2006.
6.4. Đánh giá về sử dụng kinh phí.
- Kinh phí được duyệt thuộc NSNN: 150 triệu đồng
- Nguồn vốn tự có: 150 triệu đồng
Chúng tôi đã sử dụng kinh phí theo đúng dự toán và đúng kế hoạch đã được duyệt. Ngoài ra, công ty cổ phần TRAPHACO đã cấp trước kinh phí để thực hiện một số nội dung đề tài và cấp bổ sung một số chi phí phát sinh ngoài dự toán..
Tóm lại, đề tài đã thực hiện đầy đủ các nội dung đã đăng ký và đạt được các mục tiêu đề ra trong đề cương đã được duyệt. Đề tài đã được Hội đồng KH&CN cấp Bộ nghiệm thu và đánh giá loại xuất sắc ngày 27/3/2007. Báo cáo kết quả đề tài đã được đăng ký tại Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
| Trang: | 1 |





