Đề tài Thuốc chống nôn, chống say tàu xe
Đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu chế tạo thuốc từ dược liệu có tác dụng chống nôn, chống say tàu xe.
1. Danh sách tác giả:
ThS. Bùi Hồng Cường (Chủ nhiệm đề tài), ThS. Vũ Thị Thuận, ThS. Nguyễn Huy Văn, TS. Phùng Hoà Bình, TS. Nguyễn Trọng Thông, ThS. Phạm Thị Giảng, DS. Nguyễn Thị Bích Thuỷ, Lương y Bùi Hải Thanh, DS. Nguyễn Việt Hà, DS. Lương Trọng Hoàn, DS. Chu Thế Ninh, BS. Vũ Thị Ngọc Thanh, BS. Phạm Thị Vân Anh
2. Thời gian thực hiện: 2/2002-8/2003.
3. Mục tiêu:
Đưa ra những luận cứ khoa học và khả thi để chế tạo thuốc chống nôn, chống say tàu xe từ dược liệu thích hợp phục vụ người có hội chứng tiền đình khi đi tàu xe.
4. Nội dung:
Nôn có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng: Làm bệnh nhân mệt mỏi, suy yếu, chán nản, thậm chí có thể dẫn đến mất nước, rối loạn điện giải v.v… Tùy nguyên nhân và cơ chế gây nôn, nhiều thuốc chống nôn khác nhau đã được sử dụng. Khi sử dụng thuốc tân dược để chống nôn, một trong những tác dụng không mong muốn của thuốc là thường gây tình trạng lơ mơ, ngủ gà, mệt mỏi. Trong y học cổ truyền, để chống nôn, có thể dùng các vị thuốc như: Can khương, Sinh khương, Bán hạ, Trần bì, Hoắc hương, Ngô thù du... Hoặc các bài thuốc như: Nhị trần thang, Hoắc hương chính khí tán, Tiểu bán hạ thang gia giảm. Từ những lý do trên và nhằm đáp ứng một phần nhu cầu về thuốc chống nôn trong say tàu xe từ dược liệu, chúng tôi đã được Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ tiến hành đề tài này.
5. Kết quả:
5.1.Lựa chọn các bài thuốc chống nôn đưa vào nghiên cứu:
Đã sưu tầm, phân tích và chọn ra 5 bài thuốc có tác dụng chống nôn
5.2.Tác dụng chống nôn và độc tính cấp:
-5 công thức đều có tác dụng chống nôn do Apomorphin gây ra trên chó con.
-Tác dụng chống nôn của công thức 2 (can khương, bán hạ) có thể vừa do ức chế trung tâm nôn vừa do làm tăng sự tháo rỗng dạ dày, nhưng không làm tăng nhu động ruột.
-Thuốc công thức 2 không có tác dụng an thần mà ngược lại thuốc làm chậm giấc ngủ của Hexobarbital và rút ngắn thời gian ngủ của Hexobarbital ở chuột nhắt, có thể do thuốc có tác dụng kích thích nhẹ thần kinh.
-Tác dụng chống nôn, trên sự tháo rỗng dạ dày và sự ảnh hưởng của thuốc đến giấc ngủ Hexobarbital của công thức 2 giữa dạng đã loại tạp và chưa loại tạp không có sự khác biệt.
-Thuốc công thức 2 đã loại tạp và chưa loại tạp rất ít độc tính cấp. Với liều gấp 560 lần liều dùng cho người không có biểu hiện ngộ độc cấp.
5.3.Chế biến và bào chế thuốc chống nôn:
-Chế biến các vị thuốc và bào chế cao theo phương pháp cổ truyền đã được áp dụng tại công ty CP Traphaco.
-Bào chế thuốc chống nôn dạng viên nang cứng số 1 theo phương pháp chung đã được áp dụng tại công ty CP Traphaco. Viên nang cứng bào chế theo phương pháp này đạt các chỉ tiêu chung Dược điển Việt Nam III.
Từ kết quả nghiên cứu bào chế, đã xây dựng dự thảo QTSX thuốc chống say xe.
5.4.Nghiên cứu về hoá học và xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật:
-Tiến hành nghiên cứu định tính can khương và bán hạ chế trong thuốc: So sánh thành phần hoá học trong viên nang, can khương và bán hạ chế. Khảo sát các hệ dung môi, đã chọn được hệ dung môi thích hợp, tách các vết tốt và rõ.
-Từ các kết quả nghiên cứu trên, chúng tôi đã xây dựng dự thảo tiêu chuẩn cơ sở thuốc viên nang Tranausea plus.
5.5.Đã được cục Sở hữu công nghiệp - Bộ Khoa học và công nghệ cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa TRANAUSEA số 47245, làm căn cứ đăng ký sản xuất lưu hành thuốc.
Đề tài đã được Hội đồng Khoa học và công nghệ cấp Bộ nghiệm thu và đánh giá loại xuất sắc ngày 27/8/2003.
| Trang: | 1 |





